[Table] Chinh phục writing task 1 – tables cùng JL IELTS Academy:
Chinh phục writing task 1 – dạng Table cùng JL IELTS Academy:
Có thể nói table là một trong những dạng bài khó nhất trong các loại biểu đồ thường gặp trong kỳ thi IELTS. Một trong những khó khăn lớn nhất chính là cách chọn lọc thông tin trong các thông số ta được cung cấp.
Một vài rules of thumb (ước lượng) để xác định xem nên chọn data nào chính là:
- Nên nhắc đến mỗi đối tượng ít nhất 1 lần
- Chỉ nên liệt kê tầm ½ – ⅓ tổng số những thông số trong bài (vd: bài 20 số liệt kê 10 là nhiều rồi – tất nhiên ước lượng này có thể thay đổi dựa theo số liệu của bài, vd bài chỉ cho 10 số thì có thể cần viết hết vì viết ít hơn sẽ không đủ chữ)
- Như những bài khác nên liệt kê những số liệu đặc biệt như là thông số to nhất, rồi đến nhỏ nhất, và những thông số (gần) giống nhau.
Vì vậy, để bắt đầu viết bài ta nên lên kế hoạch trước:
- Về cơ bản table đa phần là biểu đồ đường, đặc biệt nếu chúng có sự thay đổi theo thời gian, khác với biểu đồ đường ta không nhìn thấy rõ ràng các chuyển động của các đối tượng, nên một trong những việc cần làm đầu tiên là khoanh những thông số to nhất, rồi đến nhỏ nhất, và những thông số (gần) giống nhau.
Cũng như những dạng biểu đồ khác, ta có 2 cách chính để viết bài table
- Cách 1: viết theo thời gian (nếu có) – ở paragraph 1 liệt kê tất cả những số liệu trong năm đầu – lưu ý những cái số liệu đặc biệt mà mình đã gạch ở trên và ta nên nói về chúng để lấy thêm điểm so sánh. Sang body 2 ta nên liệt kê những thay đổi của chúng cho đến năm cuối cùng, lưu ý không cần viết quá nhiều về những năm giữa, trừ khi chúng chứa thông tin rất đặc biệt.
- Cách 2: viết theo cách gộp (dùng được cho cả có thời gian hay không có thời gian) – thường sẽ có 1 paragraph tổng hợp những đối tượng gần giống nhau (so sánh bằng) và paragraph còn lại sẽ có những đối tượng đối nghịch (để tương phản).
Ví dụ chi tiết:
Dạng 1: Có thời gian
The table below provides information about secondary attendance for different types of schools from 2000 to 2009
Summarise the information by selecting and reporting the main features, making comparisons where relevant.
Plan:
Chúng ta thấy community schools tăng theo thời gian, còn những cái còn lại giảm.
Tuy nhiên những điểm đặc biệt khác mình nên nói tới là:
- Voluntary-controlled schools – là cái phổ biến nhất năm 2000, nhưng nó giảm hơn nửa vào 2009
- Kế tiếp là grammar schools – nó cũng giảm ½ sau 9 năm (tương đồng với cái trước)
- Specialist schools thì là cái ít phổ biến nhất vì attendance của nó dưới 15%
- Community schools lại là cái duy nhất tăng trong lúc này, và nó tăng khá mạnh
*Những số liệu quan trọng đã được khoanh ở table trên.
Bài sample bên dưới được viết theo cách 1 – body 1 tập trung vào số liệu của năm đầu, body 2 tập trung vào sự biến động sau 9 năm, và số liệu của năm cuối:
The table illustrates the percentage of school children attending four different types of secondary school from 2000 to 2009. Overall, it is evident that specialist, grammar and voluntary-controlled schools experienced declines in percentages of pupils, whereas community schools became the most important providers of secondary school education during the same period.
In 2000, more than half of all students attended voluntary-controlled schools, which was the most popular type of school for this year. This is followed by the attendance of grammar schools at 24%, while the proportion of students attending specialist and community schools were comparable at just 12%.
Over the 9-year period, the figure for voluntary-controlled schools fell by over half to just 20%. Attendance at grammar schools followed suit and dropped to just half of its original value while that of specialist schools decreased slightly. In contrast, community schools saw a rise in popularity as close to 60% of all students attended these schools in 2009.
*Những phép so sánh đã được highlight trong bài.
Dạng 2: Không có thời gian
The table below shows data about underground railway systems in six major cities with date opened, kilometres of route and passenger numbers per year in millions.
Summarise the information by selecting and reporting the main features, making comparisons where relevant.
Plan:
Do đây là bài không có thời gian, ta nên chọn những đối tượng để gộp
Trong đây có thể thấy một trend là những thành phố có tàu điện ngầm cũ hơn cũng sẽ có chiều dài lớn hơn và phục vụ nhiều khách hơn nên ta sẽ gộp 3 thành phố đầu lại với nhau và 3 cái sau sẽ ở đoạn 2.
Đối với số liệu thì ở bài này thì đáng nói đến:
- London là dài nhất, lâu đời nhất
- Paris có chiều dài một nửa london, nhưng lại phục vụ nhiều khách hơn
- Tokyo thì nó lại là cái ngắn nhất trong 3 cái, nhưng lại phục vụ nhiều khách hơn
- Washington DC là cái dài nhất trong 3 cái mới
- Kyoto thì phục vụ ít khách nhất
- Los Angeles lại là cái mới nhất
*Những số liệu quan trọng đã được khoanh ở table trên.
Bài sample bên dưới được viết theo cách 2 – body 1 tập trung vào số liệu của 3 thành phố đầu, body 2 tập trung vào 3 thành phố sau:
The table compares the six networks in terms of their age, size and the number of people who use them each year. It is clear that the three oldest underground systems are larger and serve significantly more passengers than the newer systems.
The London underground is the oldest system, having opened in 1863. It is also the largest system, with 394 kilometres of route. The second largest system, in Paris, is only about half the size of the London underground, with 199 kilometres of route. However, it serves more people per year. While only third in terms of size, the Tokyo system is easily the most used, with 1927 million passengers per year.
Of the three newer networks, the Washington DC underground is the most extensive, with 126 kilometres of route, compared to only 11 kilometres and 28 kilometres for the Kyoto and Los Angeles systems. The Los Angeles network is the newest, having opened in 2001, while the Kyoto network is the smallest and serves only 45 million passengers per year.
*Những phép so sánh đã được highlight trong bài.


Responses